大畜 . 利貞 . 不家食 . 吉 . 利涉大川 .
Đại súc. Lợi trinh. Bất gia thực. Cát. Lợi thiệp đại xuyên.
Đại Súc: Hàm súc rồi rào, Lại còn chính đáng, thanh cao mới là. Nếu đem thân giúp quốc gia, Dẫu qua sông lớn, vẫn là điều hay.
Hình tượng quẻ
Thượng quái Cấn tượng núi, hạ quái Càn tượng trời. Đọc hai lớp hình tượng cùng ý nghĩa toàn quẻ dưới đây.
Phân tích toàn quẻ Sơn Thiên Đại Súc
Thoán từ
大 畜 . 利 貞 . 不 家 食 . 吉 . 利 涉 大 川 .
Đại súc. Lợi trinh. Bất gia thực. Cát. Lợi thiệp đại xuyên.
Dịch. Thoán Từ.
Đại Súc: Hàm súc rồi rào,
Lại còn chính đáng, thanh cao mới là.
Nếu đem thân giúp quốc gia,
Dẫu qua sông lớn, vẫn là điều hay.
Thoán Từ đại khái nói: Người quân tử muốn ra giúp đời, phải hàm
tàng, uẩn súc đạo đức, học thức, tài trí, cho nhiều, cho hay mới là Đại
Súc. Nói là uẩn súc, nhưng phải uẩn súc chính lý, chính đạo mới hay
(Lợi trinh), chứ không phải uẩn súc dị đoan, tà thuyết.
Nhưng người đã súc tích, hàm tàng kinh lu ân, sử sách, có tài, có
đức cao siêu, thời nên được dùng vào đại công, đại sự, giúp ích cho
nước, cho dân, hưởng lộc thiên hạ mới hay. Vì thế mới nói: Bất gia
thực cát. Những người đó sẽ là những người cứu nguy, cứu nạn cho
thiên hạ mỗi khi cần đến (Lợi th iệp đại xuyên).
Thoán Truyện.
彖曰: 大 畜 . 剛 健 . 篤 實 輝 光 . 日 新 其 德 . 剛上 而 尚 賢 .
能 止 健 . 大 正 也 . 不家 食 吉 . 養 賢 也 . 利 涉 大 川 . 應 乎 天 也
.
Thoán viết:
Đại Súc. Cương kiện. Đốc thực huy quang. Nhật tân kỳ đức.
Cương thượng nhi thượng hiền. Năng chỉ kiện. Đại chính dã . Bất gia
thực cát. Dưỡng hiền dã. Lợi thiệp đại xuyên. Ứng hồ Thiên dã.
Dịch. Thoán Truyện.
Thoán rằng: Dũng mãnh, cương kiên,
Trong thời hàm súc, ngoài thêm huy hoàng.
Đức hành, ngày một sửa sang,
Hiền lương một dạ nể nang, tôn vì.
Dừng nơi hoàn thiện, s iêu vi,
Sắt son ngay chính, muôn bề thanh cao.
Tài đem giúp nước, mới hào,
Ơn vua, lộc nước, rồi rào lo chi.
Thành công, cứu nạn, phò nguy,
Như băng sông lớn, đúng y Mệnh Trời.
Thoán Truyện bình thêm rằng: những người hàm súc tài đức tới
mức cao độ, như vậ y ắt có một tâm thần cương kiên, thiết thạch, ắt có
thực tài, thực đức, dến nỗi quang huy phát lộ cả ra ngoài (Cương kiện.
Đốc thực huy quang), mỗi ngày lại thấy hiển lộ thêm đường nhân, nẻo
đức (Nhật tân kỳ đức). Thoán còn dạy, phải tôn hiền, thượng hiền, cấp
dưỡng cho những bậc hiền tài, vì họ là những bậc chính nhân, quân
tử, đại minh, đại chính, hành động ứng hợp với Trời, sẽ ngăn chặn
được những kẻ cường mãnh, sẽ giải nguy, cứu khốn được cho đất nước
sau này (Cương thượng nhi thượng hiền. Năng chỉ kiện . Đại chính dã.
Lợi thiệp đại xuyên. Ứng hồ Thiên dã).
Sau tình thế ổn định tiếp tục sẽ tới sự súc tụ nên tiếp sau quẻ Vô
Vọng là quẻ Sơn Thiên Đại Súc. Tượng hình của quẻ có Cấn ở trên,
Càn ở dưới là sự tích tụ của trời vào trong núi. Đây là sự tích tụ lớ n
nên gọi là Đại Súc. Trong Càn có đức cương cường, đốc thực, chỉ sự
cứng rắn, đại chính nên rất tốt.
Quẻ Đại Súc được ví với hình tượng người có uẩn súc, có đạo
đức, có tài trí, làm việc gì cũng đạt được kết quả tốt, nhưng cần đắc
chính. Hào Lục Ngũ đứng ở vị trí ngôi tôn, ứng với hào Cửu ở dưới
chính là ứng Trời. Hào Nhị có tài đức, thuận ứng với trời, trong thiên
hạ dù có nhiều điều uẩn khúc cũng có thể thoát.
Sơ lược từng hào của quẻ Sơn Thiên Đại Súc
Sơ Cửu : trùng dương, nên không rõ nghĩa trên, cứ tiến liều, không chịu để cho Tứ súc, sẽ nguy. (Ví dụ các đảng cách mạng phát triển bừa bãi, thu nạp đảng viên không kiểm soát chặt chẽ).
Cửu Nhị : dương hào cư âm vị, đắc trung, hiểu rõ nghĩa trên, nên tuy có tài mà không tiến vội, vì còn bị ngũ súc, được vô cựu. (Ví dụ Câu Tiễn chịu nhục, nuôi chí phục thù trong 10 năm).
Cửu Tam : đã uẩn Súc được đầy đủ, trên lại được Thượng Cửu đồng chí hướng nên miễn là phòng bị cẩn thận, có kế hoạch chu đáo, thì hành động sẽ thắng lợi. (Ví dụ Câu Tiễn chờ đợi mãi, khi thấy thời cơ đã đến, bèn tấn công Ngô).
Lục Tứ : ở thời Đại Súc, Tứ có thể kìm hãm được Sơ Cửu, vì Sơ ở đầu quẻ còn yếu. Nghĩa là phòng bị ngay từ buổi đầu thì dễ. (Ví dụ Hán Cao Tổ chế ngự được Anh Bố, Bành Việt khi họ mới manh động).
Lục Ngũ : muốn kìm hãm Cửu Nhị, không nên dùng sức mà phải dùng trí, công phu ít mà hiệu quả lớn. (Ví dụ Hán Cao Tổ giả du Vân Mộng, bắt Hàn Tín).
Thượng Cửu : thời Súc đã hết, không cần kìm hãm nữa, đạo trời lưu thông tự do. (ví dụ nhà Trần, sau khi dẹp yên các cuộc khởi nghĩa của di thần triều Lý, theo chính sách khoan hồng để nhân dân được an cư lạc nghiệp).
Ý nghĩa của quẻ Sơn Thiên Đại Súc
Quẻ Sơn Thiên Đại Súc là quẻ điềm tốt, tượng trưng cho sự bành trướng của đạo cương cường (Càn) bị sự đốc thực của Cấn điều khiển và kiểm soát. Quẻ này là người có uẩn súc, có tài trí rộng lớn bằng tính cách điềm tĩnh, tài trí của bản thân sẽ lập nên được nghiệp lớn đầy hiển hách.
Nếu so sánh quẻ Đại Súc với quẻ Tiểu Súc thì cả hai quẻ có chung nội quái là Càn, nhưng ngoại quái khác nhau. Quẻ Tiểu Súc có ngoại quái Tốn. Tốn Âm thể hiện sự khiêm nhường. Ngoại quái của quẻ Đại Súc là Cấn có hào Dương thể hiện sự mạnh mẽ hơn. Vì thế Tiểu Súc quân tử bị tiểu nhân kìm hãm còn quẻ Đại Súc thì quân tử tự kìm hãm chính bản thân mình.
Đại Súc được hiểu là sự để dành, góp nhặt, tượng quẻ Thiên Tại Sơn Trung tức là Trời ở trong núi chỉ ý hãy nằm im, không nên chuyển động. Nội quái Càn ở dưới mang lực mạnh đang bốc lên cao. Quẻ này báo hiệu thời vận đang đến, mọi sự bắt đầu hanh thông.
Đại Súc có nghĩa là gom nhặt, để dành, tích trữ. Tượng quẻ là “Thiên tại sơn trung” Nghĩa là trời ở trong núi quái trên là Cấn nằm trên ý bảo rằng hãy nằm im không chuyển động. Càn nằm dưới biểu hiện cho lực mạnh đang bốc lên. Vậy quẻ có nghĩa là thời vận đang đến, bắt đầu hanh thông, được sự bảo hộ của cấp trên, nâng chức hoặc thăng tiến trong học vấn
Quẻ Sơn Thiên Đại Súc tốt cho việc gì?
Quẻ Sơn Thiên Đại Súc được sự bảo hộ của cấp trên, thành công trong công danh sự nghiệp, không ngừng được thăng tiến, nâng chức. Nếu kinh doanh dụng quẻ Đại Súc cũng có nhiều lộc.
Cấn vốn chỉ đức dành, Càn Dương cương nên quẻ Đại Súc tức là tự súc mới tốt. Ba hào ở dưới biểu tượng cho đối thủ cần được súc. Hào Sơ không chịu nên dẫn tới nguy. Hào Nhị biết tự súc nên giữ được bản mệnh
tốt. Hào Tam đồng chí hướng với hào Thượng giúp cả hai cùng tiến lên đến với thắng lợi.
Ba hào trên cùng của quẻ Đại súc làm nhiệm vụ kìm hãm đối thủ, loại bỏ những thế lực ngăn trở sự phát triển địa vị, công danh. Nên dựa vào hào Tam tự do để sinh sống theo thế quân bình, công việc dễ thành công hơn.
Sáu hào của quẻ
Hào 1 · Sơ Cửu
trùng dương, nên không rõ nghĩa trên, cứ tiến liều, không chịu để cho Tứ súc, sẽ nguy. (Ví dụ các đảng cách mạng phát triển bừa bãi, thu nạp đảng viên không kiểm soát chặt chẽ).
Hào 2 · Cửu Nhị
dương hào cư âm vị, đắc trung, hiểu rõ nghĩa trên, nên tuy có tài mà không tiến vội, vì còn bị ngũ súc, được vô cựu. (Ví dụ Câu Tiễn chịu nhục, nuôi chí phục thù trong 10 năm).
Hào 3 · Cửu Tam
đã uẩn Súc được đầy đủ, trên lại được Thượng Cửu đồng chí hướng nên miễn là phòng bị cẩn thận, có kế hoạch chu đáo, thì hành động sẽ thắng lợi. (Ví dụ Câu Tiễn chờ đợi mãi, khi thấy thời cơ đã đến, bèn tấn công Ngô).
Hào 4 · Lục Tứ
ở thời Đại Súc, Tứ có thể kìm hãm được Sơ Cửu, vì Sơ ở đầu quẻ còn yếu. Nghĩa là phòng bị ngay từ buổi đầu thì dễ. (Ví dụ Hán Cao Tổ chế ngự được Anh Bố, Bành Việt khi họ mới manh động).
Hào 5 · Lục Ngũ
muốn kìm hãm Cửu Nhị, không nên dùng sức mà phải dùng trí, công phu ít mà hiệu quả lớn. (Ví dụ Hán Cao Tổ giả du Vân Mộng, bắt Hàn Tín).
Hào 6 · Thượng Cửu
thời Súc đã hết, không cần kìm hãm nữa, đạo trời lưu thông tự do. (ví dụ nhà Trần, sau khi dẹp yên các cuộc khởi nghĩa của di thần triều Lý, theo chính sách khoan hồng để nhân dân được an cư lạc nghiệp).
Nguồn tư liệu và ghi chú biên soạn
Tra cứu cấu trúc và tên quẻ: quekinhdich.net ↗. Nội dung luận quẻ tham khảo tài liệu “Luận Cát - Hung, giải mã ý nghĩa 64 quẻ Kinh Dịch” trang 128–133, biên soạn: simphongthuy.vn.
Phần hình tượng được biên soạn từ thượng quái và hạ quái. Không coi đây là trích nguyên văn Đại Tượng.
Tư liệu tham khảo văn hóa và chiêm nghiệm. Kết quả không quyết định tương lai hay thay thế thông tin thực tế.