Văn hóa phương Đông · Trí tuệ ngàn đờiThứ hai, 02/11/2026
← Thư viện 64 quẻ

QUẺ SỐ 3 · 屯

Thủy Lôi Truân

Sự gian nan

Thượng quái: Khảm · Hạ quái: Chấn

Gieo quẻ cho điều bạn đang hỏi →

Thoán từ

屯:元,亨,利,貞,勿用,有攸往,利建侯。 Truân. Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh. Vật dụng hữu du vãng. Lợi kiến hầu Truân chiên vất vả lúc ban đầu. Nhưng sẽ hanh thông vận hội sau, Phải biết bền gan đừng vọng động Tìm người trợ giúp, ích bền lâu.

Hình tượng quẻ

Thượng quái Khảm tượng nước, hạ quái Chấn tượng sấm. Đọc hai lớp hình tượng cùng ý nghĩa toàn quẻ dưới đây.

Phân tích toàn quẻ Truân

Thoán từ 屯:元,亨,利,貞,勿用,有 攸 往,利 建 侯。 Truân. Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh. Vật dụng hữu du vãng. Lợi kiến hầu Dịch. Truân chiên vất vả lúc ban đầu. Nhưng sẽ hanh thông vận hội sau, Phải biết bền gan đừng vọng động Tìm người trợ giúp, ích bền lâu. Tuy nhiên, dầu có gian nan, nhưng rồi ra các trở ngại sẽ như băng tan, tuyết tán, các rối ren sẽ được tháo gỡ, mọi chuyện éo le, trắc trở, nhờ tài kinh luân của con người biết tạo thời thế sẽ được giải quyết êm xuôi. Thoán Truyện viết: 屯,剛 柔 始 交 而 難 生,動 乎 險 中,大 亨 貞。雷 雨 之 動 滿 盈,天 造 草 昧,宜 建 侯 而 不 寧。 Truân cương nhu thủy giao nhi nạn sinh. Động hồ hiểm chung. Đại hanh trinh. Lôi vũ chi động mãn doanh. Thiên tạo thảo muội. Nghi kiến hầu nhi bất ninh. Dịch. Thoán rằng: Cương, nhu vừa mới giao nhau Truân chuyên, trắc trở bắt đầu nẩy sinh. Mưu đồ giữa buổi điêu linh, Bền gan sẽ thấy tiền trình hanh thông. Mưa rơi, sấm động trập trùng, Muôn loài nhờ đó tưng bừng nẩy sinh. Vận trời rối rắm, u minh, Tìm người phụ bật, riêng mình chớ ngơi. Cho nên, thấy khó khăn đừng vội thất vọng, mà phải biết một dạ sắt son, giữ cho tròn Đạo lý, phải lo tìm cách gỡ rối, lo tìm người đồng tâm, đồng chí chung sức tái tạo non sông. Phương châm hoạt động lúc này, là phải biết tìm ra nguyên nhân của rối ren, tao loạn, hoạch định những phương sách phò nguy, cứu khổ cho rõ ràng, tìm người phụ bật cho hay, lựa thời thế thuận tiện, mới ra tay lèo lái, chớ đừng nhắm mắt làm liều. Sau quẻ Thuần Càn, quẻ Thuần Khôn âm dương chi phối vũ trụ mở ra tình thế, vận hội mới. Truân là lúc vạn vật mới hình thành. Bất kể vật gì mới sinh chưa thể hanh thái ngay được nên bị truân. Đó là gian truân, nhiều trở ngại. Ngoại quái Khảm là mây, nội quái Lôi là sấm. Thời này chỉ thấy mây, đã nghe thấy tiếng sấm nhưng chưa thể mưa được nên truân.

Sơ lược từng hào của quẻ Truân

Sơ Cửu : đắc chính, chỉ người có tài ở vị trí thấp, nên còn dùng dằng, chờ gặp thánh chúa mới giúp nước. (Ví dụ: Khổng Minh ẩn náu ở Ngọa Long cương trước khi gặp Lưu Bị). Lục Nhị : đắc chính đắc trung. Nhưng vì ở thời Truân, nên dụ dự nửa muốn kiên trinh với Ngũ, nửa muốn theo Sơ ở kề bên. Nên chờ Ngũ thì hợp hơn. (Ví dụ: Kiển Thạc không chịu ra làm quan với vua Ngu, đợi vua Tần mới chịu xuất chính). Lục Tam : bất chính bất trung, không chịu suy nghĩ chín chắn mà bước liều. ở thời Truân, hấp tấp phò tá một vua hèn, sau sẽ hối (Ví dụ Trần Cung là bậc trung nghĩa có tài, mà lầm theo phò Lã Bố). Lục Tứ : đắc chính, tức là vui ở phận kém, không tham vọng được nương tựa Cửu Ngũ, quay xuống ứng với Sơ Cửu. (Ví dụ: con gái nhà nghèo nên lấy trai quê tử tế, còn hơn lăng nhăng với công tử thị thành). Cửu Ngũ : ở ngôi cao, nhưng ở thời Truân thực quyền ở Sơ Cửu, làm việc nhỏ thì được (ứng với lục Nhị), nếu mưu việc lớn sẽ thất bại. (Ví dụ Tự Đức có khả năng về văn học nghệ thuật, giá ở thời thái bình thì có thể là một vị thánh quân, nhưng vì ở thời Truân, tài trị nước đối phó với ngoại xâm lại không có, nên cơ nghiệp nhà Nguyễn phải xụp đổ). Thượng Lục : Truân nạn đã đến cực điểm, mà thượng lại là bất tài và không có người tài giúp đỡ (cả Thượng và Tam đều âm), nên không đương nổi tình thế, càng cựa quậy càng thất bại. (Ví dụ: Lê Chiêu Thống, tự mình không đối phó được với quyền thần nhà Tây Sơn, hết cầu cứu với Nguyễn hữu Chỉnh lại đến quân Thanh, kết cục phải chết nhục ở bên Tàu).

Ý nghĩa của quẻ Truân

Quẻ Truân được hiểu theo 2 nghĩa đó là đầy dãy hoặc cũng có thể là chiên, vất vả. Truân xuất hiện khi Trời Đất thoạt giao nhau, nảy sinh đầy dãy vạn vật khắp nơi. Chính do Âm Dương đang thoạt giao nhau nên sinh khí chưa thông suốt, còn nhiều uất kết. Đây là bước thuở ban đầu, hoạt động nhiều hiểm nguy. Khởi đầu nào mà không có gian truân, có thể ví thời kỳ của quẻ Truân như loài hoa mỏng manh, yếu ớt khăn trong việc đứng trước mưa bão phũ phàng, vô vàn trở ngại. Tượng quẻ là “Mật vân bất vũ” ngoài Khảm (nguy hiểm), trong là Chấn (náo loạn) tương ứng với sự rối ren, gian khổ. Nhưng tất nhiên người có tài phi thường xuất hiện “thời thế tạo anh hùng”. Bói quẻ thể hiện tình trạng chờ đợi, mặt khác chỉ bảo các đối phó để lệ nguy, hiểm ác hạn chế nhất.

Quẻ Truân tốt cho việc gì?

Thoạt đầu nên đề cao cảnh giác trước những tình thế hiểm nguy (Khảm), không nên vội vàng hành động. Hấp tấp dẫn thân hành đạo của hào Sơ, hào Nhị, Tam hay Thượng gây nên tình thế nguy. Ẩn nhẫn vẫn là hơn. Hào Tứ, hào Ngũ nhận thức được sự an toàn. Quẻ này xấu, trước mắt nhiều hiểm nguy nên đề phòng cẩn thận, tích cực đối phó. Sự nghiệp thời này nhiều mạo hiểm. Kinh doanh bỏ vốn nhiều trong lúc kinh tế chưa ổn định nên khó đạt như mong muốn. Chỉ có thể chờ tài phi thường (hào Nhị, hào Ngũ đắc chính) là lúc khai sáng mới mở ra nhiều khai sáng.

Sáu hào của quẻ

Hào 1 · Sơ Cửu

đắc chính, chỉ người có tài ở vị trí thấp, nên còn dùng dằng, chờ gặp thánh chúa mới giúp nước. (Ví dụ: Khổng Minh ẩn náu ở Ngọa Long cương trước khi gặp Lưu Bị).

Hào 2 · Lục Nhị

đắc chính đắc trung. Nhưng vì ở thời Truân, nên dụ dự nửa muốn kiên trinh với Ngũ, nửa muốn theo Sơ ở kề bên. Nên chờ Ngũ thì hợp hơn. (Ví dụ: Kiển Thạc không chịu ra làm quan với vua Ngu, đợi vua Tần mới chịu xuất chính).

Hào 3 · Lục Tam

bất chính bất trung, không chịu suy nghĩ chín chắn mà bước liều. ở thời Truân, hấp tấp phò tá một vua hèn, sau sẽ hối (Ví dụ Trần Cung là bậc trung nghĩa có tài, mà lầm theo phò Lã Bố).

Hào 4 · Lục Tứ

đắc chính, tức là vui ở phận kém, không tham vọng được nương tựa Cửu Ngũ, quay xuống ứng với Sơ Cửu. (Ví dụ: con gái nhà nghèo nên lấy trai quê tử tế, còn hơn lăng nhăng với công tử thị thành).

Hào 5 · Cửu Ngũ

ở ngôi cao, nhưng ở thời Truân thực quyền ở Sơ Cửu, làm việc nhỏ thì được (ứng với lục Nhị), nếu mưu việc lớn sẽ thất bại. (Ví dụ Tự Đức có khả năng về văn học nghệ thuật, giá ở thời thái bình thì có thể là một vị thánh quân, nhưng vì ở thời Truân, tài trị nước đối phó với ngoại xâm lại không có, nên cơ nghiệp nhà Nguyễn phải xụp đổ).

Hào 6 · Thượng Lục

Truân nạn đã đến cực điểm, mà thượng lại là bất tài và không có người tài giúp đỡ (cả Thượng và Tam đều âm), nên không đương nổi tình thế, càng cựa quậy càng thất bại. (Ví dụ: Lê Chiêu Thống, tự mình không đối phó được với quyền thần nhà Tây Sơn, hết cầu cứu với Nguyễn hữu Chỉnh lại đến quân Thanh, kết cục phải chết nhục ở bên Tàu).

Nguồn tư liệu và ghi chú biên soạn

Tra cứu cấu trúc và tên quẻ: quekinhdich.net ↗. Nội dung luận quẻ tham khảo tài liệu “Luận Cát - Hung, giải mã ý nghĩa 64 quẻ Kinh Dịch” trang 12–15, biên soạn: simphongthuy.vn.

Phần hình tượng được biên soạn từ thượng quái và hạ quái. Không coi đây là trích nguyên văn Đại Tượng.

Tư liệu tham khảo văn hóa và chiêm nghiệm. Kết quả không quyết định tương lai hay thay thế thông tin thực tế.